Lưu trữ của tác giả machino pvn



20
Tháng 3
13

Chửi mắng và lời dạy của Đức Phật

Một lần, Phật đi giáo hóa vùng Bà La Môn, Các tu sĩ Bà La Môn thấy đệ tử của mình đi theo Phật nhiều quá, nên ra đón đường Phật chửi. Phật vẫn đi thong thả, họ đi theo… sau chửi. Thấy Phật thản nhiên làm thinh , họ tức giận, chặn Phật lại hỏi:
- Cù-đàm có điếc không?

- Ta không điếc.

- Ngài không điếc sao không nghe tôi chửi?

- Này Bà La Môn, nếu nhà ông có đám tiệc, thân nhân tới dự, mãn tiệc họ ra về, ông lấy quà tặng họ không nhận thì quà đấy về tay ai?

- Quà ấy về tôi chứ ai.

- Cũng vậy, ông chửi ta, ta không nhận thì thôi.

* Người kêu tên Phật chửi mà Ngài không nhận. Còn chúng ta , những lời nói bóng, nói gió ở đâu đâu cũng lắng tai nghe, để buồn để giận. Như vậy mới thấy những lời cuồng dại của chúng sanh Ngài không chấp không buồn. Còn chúng ta do si mê, chỉ một lời nói nặng nói hơn, ôm ấp mãi trong lòng, vì vậy mà khổ đau triền miên. Chúng ta tu là tập theo gương Phật, mọi tật xấu của mình phải bỏ, những hành động lời nói không tốt của người, đừng quan tâm. như thế mới được an vui.

Trong kinh, Phật ví dụ người ác mắng chửi người thiện, người thiện không nhận lời mắng chửi đó thì người ác giống như người ngửa mặt lên trời phun nước bọt, nước bọt không tới trời mà rơi xuống ngay mặt người phun. Thế nên có thọ nhận mới dính mắc đau khổ, không thọ nhận thì an vui hạnh phúc. Từ đây về sau quí vị có nghe ai nói gì về mình, dù tốt hay xấu, chớ nên thọ nhận thì sẽ được an vui.

Tuy có chướng duyên bên ngoài mà chúng ta biết hóa giải, không thọ nhận, đó là tu. Không phải tu là cầu an suông, mà phải có người thử thách để có dịp coi lại mình đã làm chủ được mình chưa. Nếu còn buồn giận vì một vài lí do bất như ý bên ngoài. Đó là tu chưa tiến.

Đa số chúng ta có cái tật nghe người nói không tốt về mình qua miệng người thứ hai , thứ ba, thì tìm phăng cho ra manh mối để thọ nhận rồi nổi sân si phiền não, đó là kẻ khờ, không phải người trí.

19
Tháng 3
13

Cuộc sống không cho ai quá nhiều

Ở một đất nước giàu có của Châu Âu, có một cô ca sĩ rất nổi tiếng. Tuy mới chỉ 30 tuổi nhưng danh tiếng cô đã vang dội khắp nơi, hơn nữa cô có một người chồng như ý và một gia đình hạnh phúc mỹ mãn. Một lần, sau khi tổ chức thành công một đêm diễn, cô ca sĩ cùng chồng và con trai bị đám đông người hâm hộ cuồng nhiệt bao quanh. Mọi người tranh nhau chuyện trò với cô. Những lời lẽ tán tụng khen ngợi tràn ngập cả sân khấu.

Có người khen cô tuổi nhỏ chí lớn, vừa tốt nghiệp đại học đã bước chân vào nhà hát tầm cỡ quốc gia và trở thành nữ ca sĩ trụ cột của nhà hát. Có người tán tụng rằng mới có 25 tuổi mà cô đã được lựa chọn là một trong 10 nữ ca sĩ có giọng háy opera xuất sắc nhất thế giới. Có người lại ngưỡng mộ cô có người chồng tuyệt vời, một cậu con trai kháu khỉnh, dễ thương.

Trong khi mọi người thi nhau bà luận, cô ca sĩ này chỉ im lặng lắng nghe, không thể hiện thái độ gì. Khi mọi người nói xong cô chậm rãi nói: “Trước tiên, tôi cảm ơn những lời ngợi khen của mọi người dành cho tôi và những người trong gia đình tôi. Tôi hy vọng có thể chia sẻ niềm vui này với mọi người. Nhưng các bạn chỉ nhìn thấy một số mặt trong cuộc sống của tôi còn một số mặt khác, các bạn vẫn chưa nhìn thấy. Cậu con trai của tôi mà mọi người khen là bé kháu khỉnh, đáng yêu, thật bất hạnh, nó là 1 đứa trẻ bị câm. Ngoài ra, nó còn có một người chị tâm thần và thường xuyên bị nhốt ở nhà.”

Mọi người đều ngơ ngác, sửng sốt nhìn nhau, dường như rất khó chấp nhận một sự thật như thế. Lúc này, cô ca sĩ mới điềm tĩnh nói với mọi người: “Tất cả những chuyện này nói lên điều gì? Có lẽ chúng nói lên một triết lý, đó là, Thượng đế rất công bằng, ngài không cho ai quá nhiều thứ bao giờ.”

Thượng đế rất công bằng , ngài không cho ai quá ít, cũng không cho ai quá nhiều. Vì thế, đừng nên chỉ nhìn thấy hoặc ngưỡng mộ những thứ người khác có, mà nên nghĩ và trân trọng những thứ bạn đang có, cho dù đó không phải là những vinh quang tột đỉnh.

Vậy nên, nếu ai hỏi anh chị “Bạn có hạnh phúc không?” Anh chị hãy trả lời rằng :”Mình hạnh phúc. Hạnh phúc theo cách sống và những gì mình đang có trên đời này. “

28
Tháng 2
13

Bốn nguyên tắc của Hiến pháp Pháp

Trần Đức Tuấn
Cộng hòa Pháp là một quốc gia có truyền thống dân chủ lâu đời ở châu Âu. Nhằm xây dựng “nhà nước của dân, do dân và vì dân”, Hiến pháp Pháp dựa trên bốn nguyên tắc cơ bản sau:
Một là, Hiến pháp bảo vệ quyền con người

Nguyên tắc cơ bản đầu tiên đó là quyền cơ bản nhất của chon người được bảo vệ. Trong khi các quốc gia có xu hướng liệt kê các quyền con người được bảo vệ, thì Lời mở đầu của Hiến pháp Pháp năm 1958 đã viện dẫn 2 văn bản quan trọng về quyền con người: “Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1789” và “Lời mở đầu của Hiến pháp năm 1946”.

Tuy nhiên, quyền sống, tự do và bình đẳng được xem là thiêng liêng, là nguyên tắc của phẩm hạnh con người, và được củng cố bằng các quyền kinh tế v�Theo Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền, các quyền tự do cá nhân là vĩnh viễn và chưa đầy đủ. Vĩnh viễn theo nghĩa các quyền sẽ tồn tại, gắn với mỗi con người, mà không bị tước đoạt. Chưa đầy đủ nghĩa là việc liệt kê các quyền con người chỉ mang tính tương đối, chưa có một thước đo hoàn chỉnh nào có thể liệt kê được tất cả các quyền con người. tham gia vào đời sống xã hội dưới hình thức tập thể và cá nhân riêng lẻ.

Ngoài ra, Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1789 và Hiến pháp Pháp năm 1946 đã đưa ra các quy định khá cụ thể để bảo vệ các quyền con người, cũng như các quy định vừa mở để phù hợp với sự phát triển của nhận thức, công nghệ…, chẳng hạn như quyền tự do ngôn luận chưa được đề cập trong Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền, nhưng nhờ những quy định mở, mà quyền này cũng được xem là bất khả xâm phạm.

Để bảo vệ các quyền con người, Hội đồng Hiến pháp có nhiệm vụ đảm bảo tất cả các luật được thông qua bởi Nghị viện phải phù hợp với Hiến pháp và các văn bản mà Hiến pháp viện dẫn.

Hội đồng Hiến pháp có chín thành viên. Tổng thống bổ nhiệm ba, Chủ tịch Quốc hội bổ nhiệm ba và Chủ tịch Thượng viện bổ nhiệm ba. Ngoài vai trò bảo vệ Hiến pháp, Hội đồng Hiến pháp còn có chức năng bảo đảm các cuộc bầu cử Tổng thống, bầu cử Nghị viện và Trưng cầu dân ý được thực thi đúng pháp luật.

Nhiệm kỳ của các thành viên Hội đồng Hiến pháp là chín năm (không bị bãi nhiệm và không được bổ nhiệm lại khi hết nhiệm kỳ). Điều này đảm bảo các thành viên độc lập, không bị chi phối bởi những người đã bổ nhiệm trong các tranh chấp chính trị và tư pháp.

Hai là, Hiến pháp phân quyền

Theo quy định của Điều 16 của Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền 1789, Hiến pháp, theo tinh thần Học thuyết Montesquieu, phân chia quyền lực. Quyền lập pháp được trao cho Nghị viện, quyền hành pháp trao cho Tổng thống và Thủ tướng, quyền tư pháp trao cho Tòa án.

Nhánh lập pháp: bao gồm Quốc hội (the National Assembly) và Thượng viện (the Senate)
Quốc hội được bầu thông qua phổ thông trực tiếp, dựa trên nguyên tắc đa số. Mỗi dân biểu được lựa chọn từ một khu vực cử tri, hay nói cách khác, một khu vực nhất định chỉ có một dân biểu đại diện. Điều này tránh được tình trạng “cha chung không ai khóc”. Nếu một vài dân biểu đại diện cho một khu vực, rất khó để xác định trách nhiệm của các dân biểu.

Trong khi dân biểu của Quốc hội đại diện cho người dân thì các Thượng nghị sỹ đại diện cho các quyền lực địa phương (bao gồm chính quốc Pháp và cả người có quốc tịch Pháp sinh sống ở nước ngoài). Thượng nghị sỹ được bầu thông qua phổ thông gián tiếp, bởi các dân biểu địa phương. Thượng nghị sỹ có nhiệm kỳ 9 năm, và cứ 1/3 trong tổng số 321 Thượng nghị sỹ sẽ được bầu lại 3 năm/lần.

Nhánh hành pháp: Quyền hành pháp được trao cho Tổng thống và Thủ tướng.

Tổng thống là người đứng đầu Nhà nước, đại diện cho quốc gia. Các quyền quan trọng của Tổng thống bao gồm: Bổ nhiệm Thủ tướng, và các thành viên của Chính phủ theo đề xuất của Thủ tướng. Ngoài ra, Tổng thống có quyền kêu gọi trưng cầu dân ý, giải tán Quốc hội (tuy nhiên, không có quyền giải tán Thượng viện), đàm phán và thông qua các hiệp ước quốc tế, hay đề xuất sửa đổi Hiến pháp, vạch ra các chính sách quan trọng cho Chính phủ.

Tuy nhiên, quyền lực quan trọng nhất của Tổng thống bắt nguồn từ nhân dân thông qua bỏ phiếu phổ thông trực tiếp. Nếu ứng viên dành được đa số tuyệt đối (quá bán/tổng phiếu), thì ngay lập tức trở thành Tổng thống.

Trong trường hợp không có ứng viên nào dành được đa số tuyệt đối, thì 2 ứng cử viên dẫn đầu sẽ tham gia vòng thứ hai. Trong lần bầu thứ hai này, người nào dành được đa số tuyệt đối sẽ chiến thắng, trở thành Tổng thống.

Thủ tướng do Tổng thống bổ nhiệm. Thủ tướng điều hành công việc hàng ngày của chính phủ, chịu trách nhiệm giải trình trước Quốc hội.

Nhánh Tư pháp:

Nghĩa vụ của Thẩm phán Pháp bao gồm: giải thích và áp dụng pháp luật. Hiến pháp bảo đảm các Thẩm phán độc lập và có một địa vị đặc biệt.

Pháp có hệ thống tư pháp kép, song song nhưng hệ thống cấp bậc riêng biệt: Các Tòa Dân sự và các Tòa Hình sự (cao nhất là Tòa Phá án (Court of Cassation); và các Tòa Hành chính, xét xử các tranh chấp giữa các cơ quan công quyền và cá nhân (đứng đầu bởi Conseil d’Etat). Ngoài ra, còn có Tòa Kiểm toán (Audit Court) với các trách nhiệm trong lĩnh vực ngân sách và tài chính.

Ba là, chế độ Đại nghị duy lý

Chế độ Đại nghị duy lý được hiểu là trong mối quan hệ giữa Chính phủ và Nghị viện thì Chính phủ có nhiều cách để thúc ép Nghị viện thông qua chính sách.

Chính phủ không e ngại khi đối diện với Nghị viện bởi các thành viên của Nghị viện chịu sức ép từ Chính phủ (cùng Đảng). Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các thành viên này có thể lựa chọn khác, khi lợi ích của Đảng xung đột lợi ích nhân dân.

Chế độ này bảo đảm sự ổn định và quyền lực của số đông (power of the majority block).

Cuối cùng, Hiến pháp bảo đảm mối quan hệ trách nhiệm của nhà cầm quyền đối với người dân

Người dân (người bị trị) chọn nhà cầm quyền thông qua bầu cử.  Nhà cầm quyền đưa ra chính sách để điều hành.  Nhà cầm quyền chịu trách nhiệm giải trình trước dân (nếu nhà cầm quyền không thực hiện được như nguyện vọng của dân, thì họ sẽ không dành được phiếu trong cuộc bầu cử sau).

Lời kết

Rõ ràng, với những nguyên tắc: Bảo vệ quyền con người, Phân quyền, Chế độ Đại nghị duy lý, Bảo đảm trách nhiệm của nhà cầm quyền đối với người dân, Hiến pháp Pháp thực sự là khế ước xã hội bảo vệ các quyền lợi của các thành viên trong xã hội, cũng như đã xây dựng được một mô hình phân quyền hợp lý giữa các nhánh quyền lực. Có như vậy, người trao quyền (nhân dân) mới thực sự làm chủ, không bị mất quyền sau khi trao quyền. Những nguyên tắc này, về cơ bản, cũng là xu hướng chung trong Hiến pháp của nhiều nước dân chủ trên thế giới như Đức, Thụy Điển, Bồ Đào Nha…

Theo TiaSang.com.vn
28
Tháng 2
13

Đi vào nơi không có đường

Trần Đình Hoành

Chào các bạn,
Make-your-path
“Đừng đi vào nơi con đường có thể dẫn đến. Hãy đi vào nơi không có đường và để lại một lối mòn”. (Do not go where the path may lead, go instead where there is no path and leave a trail – Ralph Waldo Emerson).

Phá một lối đi xuyên rừng. Mở một lối mòn qua rặng núi. Đào một con kinh qua một cánh đồng hoang.

Khai phá. Đi vào nơi chưa ai đến.

Để ta không chỉ mở cánh rừng, mà còn mở cánh cửa kho tàng những khả năng tiềm ẩn của ta.

Mỗi người chúng ta đều có nhiều tiềm năng mà ta không thấy, cho đến khi ta đối diện những thử thách mà ta đã nghĩ là hoàn toàn vượt khả năng mình, như người phụ nữ bị giật dây chuyền trên đường phố, nổi xung thiên rượt theo đạp kẻ cướp ngã xe và kẻ cướp bị dân chúng vây bắt.

Và khai phá con đường mới không nhất thiết phải là khó như mở một con đường qua núi. Thường khi nó chỉ dễ như là: người ta làm chén bát tròn, mình làm chén bát vuông xem sao; người ta mở lớp thì thầy dạy, mình mở lớp để học trò dạy xem sao; người ta bán phở bò và phở gà, mình thử phở vịt xem sao…

Khai phá chỉ có nghĩa là thử điều chưa ai làm, đi vào nơi chưa ai đến, dùng phương cách chưa ai dùng… Tức là, ta là người tiền phong về việc đó.

Đừng sợ người ta cười. Đa số các nhà khám phá lớn của thế giới thường bị chế giễu—Pythagore, Edison, Franklin…

Đừng sợ con đường chẳng đi đến đâu, vì dù sao thì một con đường đã mở trong lòng bạn và con đường đó không có ngõ cụt.

Và nếu bạn may mắn xuyên được cánh rừng, sẽ có hàng nghìn hàng triệu người khác được lợi ích nhờ lối mòn bạn để lại phía sau.

Ông cha ta đã không ngừng Nam tiến nhiều nghìn năm, và ngày nay chúng ta cũng sẽ không ngừng khai phá những lãnh thổ mới của tâm trí.

Chúc các bạn luôn khai phá.

Mến,

Hoành

22
Tháng 2
13

Chùm thơ mới của nhà thơ Việt Phương

Tác giả: Trần Việt Phương

Học nhìn thời thế từ dân/ Thấy trong thấy đục thấy gần thấy xa – Tuần Việt Nam trân trọng giới thiệu chùm thơ của ông Việt Phương.

THƯỜNG

Cái đời thường gọi đời thường
Bao nhiêu cao cả đều nương đời này

Dẫu cho bẩn thỉu bủa vây
Dẫu cho lừa mị phơi bày nhiều nơi

Đời thường đời của con người
Bao nhiêu đau khổ không lời kêu than

Chất chồng nỗi ức niềm oan
Một lòng tha thứ muôn vàn tình thương

Bao năm gánh vác dặm trường
Phũ phàng trĩu nặng buốt xương vai gầy

Ngày qua rồi lại qua ngày
Đêm đêm giữ đức tin này trong sương

Cái đời thường gọi đời thường
Đẹp như cô gái góc đường bán xôi

NGHIÊNG

Đám mây đang vẫy ở phía trời xa
Hãy vươn mình lên đừng sa sút xuống

Nhặt mớ rau muống chọn mấy củ hành
Vắt nửa quả chanh thơm đĩa bánh cuốn

Ở ven bờ ruộng có con cào cào
Nơi cõi đời nào người thao thức gió

Trên đầu ngọn cỏ triết học nằm nghiêng
Cắt mấy lát riềng mà kho khúc cá

DUYÊN

Nhìn mưa lại thấy không mưa
Không thừa không thiếu chỉ vừa đủ thôi

Những gì được gọi là đời
Khi vui thì khóc khi cười thì đau

Lúc nào chậm lúc nào mau
Đêm qua đã hết bắt đầu hôm nay

Lòng thành mở rộng vòng tay
Ôm không gì cả cho đầy cơ duyên

Trên sông trôi một lá thuyền
Giữa đường vọng một ước nguyền xa xôi

ĐÔI

Xin giấc mơ là giấc mơ mãi mãi
Lá miên man chờ đợi dọc con đường
Lòng hững hờ bỗng trở thành mê mải
Bông hoa rừng không hái lạ lùng hương

Xin dòng sao là dòng sao mãi mãi
Tất cả thôi trống trải ấm chân trời
Không có gì đầy tràn manh áo vải
Mầm non tơ thơ dại nhú từng đôi

XIN

Xin người là một giấc mơ
Để còn trắng một đợi chờ trên mây

Xin người là một vòng tay
Để còn rớt một mê say giữa đường

Xin người là một chiều sương
Để còn đọng một xót thương trong lòng

Xin người là một cuối đông
Để còn ấm một ráng hồng đầu xuân

Xin người là một rất gần
Để còn vọng một tiếng ngân dịu dàng

MỜI

Học nhìn thời thế từ dân
Thấy trong thấy đục thấy gần thấy xa

Thấy chân thành thấy gian tà
Thấy ai đủ rõ thấy ta thật người

Bao nhiêu là những xu thời
Bấy nhiêu là những đua đòi lợi danh

Nào đây thủ đoạn gian manh
Nào kia mưu mẹo xoay quanh ghế ngồi

Rồi thì cũng đến tháng mười
Để còn nghe được những lời yêu thương

Yêu từ ngọn cỏ đầm sương
Thương từ những kiếp lạc đường bơ vơ

Đã từng chín đợi mười chờ
Thuở xưa năm ấy bây giờ mai sau

Đợi chừng nào gọi là lâu
Chờ làm chi  bước qua cầu mà đi

Vẫn còn phượng đỏ mùa thi
Vẫn còn rừng núi mấy kỳ chiến tranh

Vẫn còn một giọt nắng hanh
Vẫn còn dòng sữa long lanh giữa trời

Còn nhiều ấp ủ sinh sôi
Còn bao trai gái của thời ngày nay

Cầm niềm tin vững trong tay
Ngày mai đang đợi phút giây vào đời

Còn tha thiết lắm cõi người
Còn năm mới đến gọi mời đầu hiên

22
Tháng 2
13

Xét tài sản ‘phó thủ tướng trở xuống’

Việt Nam muốn đẩy mạnh công tác ‘xác minh tài sản’ của quan chức

Dự thảo luật đang được công bố nhằm sửa đổi luật phòng chống tham nhũng đề nghị trao cho Chủ tịch nước “quyền yêu cầu xác minh tài sản đối với người dự kiến được bổ nhiệm Phó Thủ tướng và Bộ trưởng” cùng nhiều chức vụ khác.

Nhưng quyền này, trong mục Bổ sung điều 47a của Luật Phòng chống tham nhũng chỉ dừng lại ở cấp đó và các cấp “thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Phó Chánh án, Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Phó Viện trưởng và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao”.

Các chức thủ tướng, chánh án Toà án nhân dân tối cao và viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao không thấy nêu tên trong mục có thể bị chủ tịch nước hay bất cứ cấp nào khác “xác minh tài sản”.

Về phía mình, người giữ chức Thủ tướng Chính phủ lại sẽ cùng các chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện “có quyền yêu cầu xác minh tài sản đối với người dự kiến được hội đồng nhân dân bầu”.

Điều đáng chú ý là Dự thảo, hiện được đăng trên trang duthaoonline.quochoi.vn ở Việt Nam cũng ghi nhận những phê phán quốc tế là yếu tố thúc đẩy việc sửa Luật năm 2005:

Dự thảo thừa nhận rằng “chỉ số cảm nhận tham nhũng của nước ta theo xếp hạng của một tổ chức quốc tế chưa có nhiều cải thiện”.

Năm 2011, Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International) đã xếp Việt Nam hạng 112 trên tổng số 183 nước trong phúc trình về tham nhũng.

“Chủ tịch nước có quyền yêu cầu xác minh tài sản đối với người dự kiến được bổ nhiệm Phó Thủ tướng và Bộ trưởng”

Ngân hàng Thế giới trong một hội thảo ở Hà Nội hồi tháng 11/2012 cũng đã công bố báo cáo khảo sát xã hội học có tựa ‘Tham nhũng từ góc nhìn của người dân, doanh nghiệp và cán bộ, công chức, viên chức’ tại Việt Nam.

Nay, Dự thảo Luật nêu ra nhu cầu đề cao tính công khai, minh bạch về tài sản và hoạt động làm ăn trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị để chống tham nhũng.

“Trên thực tế, việc công khai, dân chủ ở một số cơ quan, đơn vị trên một số mặt còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trong một số lĩnh vực như hoạt động cấp phép thăm dò, khai thác khoáng sản, đầu tư dự án, xây dựng…”

Ai giám sát ai?

Dự thảo cũng đề nghị để Ủy ban Mặt trận Tổ quốc có quyền yêu cầu xác minh tài sản đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.

Tại Việt Nam hiện nay đã có một số nhà kinh doanh giàu có vào làm đại biểu Quốc hội.

Dư luận Việt Nam cũng chú ý nhiều đến tệ nạn ‘chạy chức’ tức dùng tiền để mua các vị trí trong bộ máy.

Tiền từ thu nhập bất chính để mua quan bán chức cũng là yếu tố tạo ra vòng quay tham nhũng.

Theo giới vận động chống tham nhũng, các luật và quy định đã có nhiều nhưng vấn đề là cơ chế rõ ràng và quyết tâm thực hiện.

Tại Việt Nam, hệ thống tư pháp không độc lập với bộ máy Đảng và Chính quyền vì thể chế bác bỏ nguyên tắc tam quyền phân lập.

Đây cũng là lý do khiến nhiều vụ án kinh tế lớn không được xử rốt ráo.

Nay, với việc lập ra Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, Đảng Cộng sản cầm quyền ở Việt Nam mong muốn sẽ thúc đẩy công tác phòng chống tham nhũng mạnh hơn.

Có ý kiến nói việc không kê khai hoặc nhờ người khác đứng têntài sản ở Việt Nam là quá dễ

Về điểm này, Dự thảo Luật xác định Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng “là cơ quan của Đảng, không phải là cơ quan nhà nước”, nên không thuộc phạm vi quy định của Luật sửa đổi.

Về chi tiết của công tác chống tham nhũng theo cách thức mới, văn bản này cũng viết rằng căn cứ vào Tờ trình số 251/TTr-CP về dự án Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) ngày 03/10/2012, chính quyền sẽ quy định việc công khai bản kê khai tài sản, thu nhập tại cả nơi cư trú của quan chức.

Họ cũng có nghĩa vụ giải trình nguồn gốc tài sản tăng thêm, cụ thể là “người kê khai tài sản, thu nhập có nghĩa vụ giải trình nguồn gốc phần tài sản tăng thêm, khi tài sản tăng thêm đó từ một trăm triệu đồng trở lên”.

Chưa kể, Dự thảo Luật còn “quy định xử lý trách nhiệm đối với người có tài sản, thu nhập tăng thêm nhưng không giải trình được hợp lý”.

Tuy vậy, theo như ý kiến của chính cựu Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc đăng trên trang của Quốc hội Việt Nam, vấn đề xảy ra với việc xác minh tài sản là “không kê khai nhưng cũng không bị ai kiểm tra gì”, hay “là nhờ người khác đứng tên quá dễ dàng”.

Theo BBC Tiếng Việt

21
Tháng 2
13

Quốc gia chung một niềm tin

Nguyễn Hải Hoành
Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ gồm nhiều dân tộc (nghe nói từ hơn 100 nước khắp 5 châu đến) khác màu da, tiếng nói, truyền thống văn hóa và nhiều thứ nữa, nhưng tất cả mọi người đều có chung một niềm tin, một khát vọng: đó là mong muốn xây dựng thành công một xã hội tự do, bình đẳng, công bằng.
Một ngày hạ tuần tháng 11 năm 1620, chiếc thuyền buồm Hoa Tháng Năm (Mayflower) chở 102 người hành hương sau 66 ngày vượt Đại Tây Dương đã cặp bến Cape Cod tại Bắc Mỹ. Đây là những người Anh theo đạo Tin Lành vì không chịu nổi sự hãm hại của Anh Giáo mà liều mình bỏ Tổ quốc trốn sang Tân lục địa để xây dựng một cuộc sống mới.

Trước khi lên bờ, khi tin rằng mình đã nằm ngoài phạm vi phán xử của bất kỳ chính phủ nào, 41 đàn ông lớn tuổi trong số 102 người đó đã nhất trí ký một thỏa thuận gọi là Công ước Hoa Tháng Năm (Mayflower Compact), được soạn thảo bởi các nhà lãnh đạo họ lựa chọn, cam kết sẽ thiết lập một cộng đồng tự quản trên nguyên tắc tự do, bình đẳng, công bằng của đạo Tin Lành. 1

Như vậy là ngay từ ngày mở nước, người Mỹ đã xác định được những nguyên tắc cơ bản phát triển quốc gia mình. Các nguyên tắc ấy mang đậm dấu ấn tín điều tôn giáo, vì thế nó tồn tại vững bền trong lòng người.

Xem xét lịch sử nước Mỹ, có thể thấy quốc gia này được hình thành theo cách khác hẳn phần còn lại của thế giới. Trong khi tất cả các quốc gia đều được thiết lập trên cơ sở những người cùng dân tộc, cùng tiếng nói, cùng truyền thống văn hóa, – gọi chung là quốc gia-dân tộc – thì nước Mỹ được thiết lập trên một nền tảng hoàn toàn khác. Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ gồm nhiều dân tộc (nghe nói từ hơn 100 nước khắp 5 châu đến) khác màu da, tiếng nói, truyền thống văn hóa và nhiều thứ nữa, nhưng tất cả mọi người đều có chung một niềm tin, một khát vọng: đó là mong muốn xây dựng thành công một xã hội tự do, bình đẳng, công bằng.

Niềm tin ấy tạo ra sự gắn kết xã hội, mối liên kết ràng buộc tất cả mọi người lại cùng phấn đấu vì một mục tiêu chung. Mối liên kết ấy ngày nay được gọi là vốn xã hội (social capital). Nguồn vốn này có đặc điểm là càng khai thác thì vốn càng tăng lên, nhờ thế người Mỹ đã làm nên vô số điều kỳ diệu.

Trước hết, họ xây dựng nên một nhà nước hiện đại theo chính thể tiên tiến chưa từng có trong lịch sử nhân loại: chính thể cộng hòa dân chủ. Năm 1846 Karl Marx từng khen ngợi “Thí dụ hoàn hảo nhất về nhà nước hiện đại là nước Mỹ. Những nước như Bắc Mỹ là những nước bắt đầu ngay bằng một thời đại lịch sử đã phát triển thì sự phát triển diễn ra rất nhanh…” 2.

Đây là lý do giải thích tại sao nước Mỹ lập quốc mới được hơn 200 năm mà đã có thể vượt qua các nước tiên tiến khác, trở thành cường quốc số một và giữ vai trò dẫn đầu thế giới cho tới nay.

Ý tưởng-niềm tin ấy được xác định bởi cộng đồng những người định cư (settlers) đầu tiên; theo sử gia Samuel Huntington, đó là những nhóm người Anh theo đạo Tin Lành đến Bắc Mỹ để xây dựng một xã hội mới. Từ đó tới nay tất cả những người di cư (immigrants) đến Mỹ đều phục tùng ý tưởng cao cả này. Vì thế có người nói nước Mỹ là một quốc gia-ý tưởng hoặc quốc gia-niềm tin.

Niềm tin đó thể hiện “các nguyên tắc tự do, bình đẳng, chủ nghĩa cá nhân, chính quyền thay mặt cho nhân dân, và sở hữu tư nhân.”, “là sự sáng tạo độc đáo của văn hóa Tin Lành”, như Hungtington viết trong cuốn Who Are We? The Challenges to America’s National Identity.

Niềm tin đó trở thành ý thức hệ độc đáo của nước Mỹ; không thể gọi nó là ý thức hệ chủ nghĩa xã hội hoặc chủ nghĩa tư bản. 150 năm sau, nó được nhắc tới trong Lời nói đầu (Preamble) Hiến pháp Mỹ. Năm 1917 nó lại được Thư ký Quốc hội Mỹ William Tyler Page viết thành một văn bản chẵn 100 từ, gọi là Niềm tin của người Mỹ (The American’s Creed), và được Quốc hội Mỹ thông qua ngày 3/4/1918 3.

Các ý tưởng tự do, bình đẳng, công bằng và nhân đạo nêu trong văn bản ấy rất cao cả, là giá trị phổ quát của loài người, không bao giờ lỗi thời, mãi mãi là ánh đuốc soi đường và vẫy gọi người Mỹ phấn đấu tiến lên, biến các ý tưởng ấy thành hiện thực trên đất Mỹ cũng như trên toàn thế giới.

Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 cho thấy người Mỹ tin rằng: – Mọi người sinh ra đều bình đẳng, tạo hóa ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc; – Để đảm bảo thực hiện các quyền lợi ấy, chính phủ được lập ra bởi nhân dân và có những quyền lực chính đáng trên cơ sở sự nhất trí của nhân dân; – Khi chính quyền phá vỡ những mục tiêu đó thì nhân dân có quyền thay đổi hoặc loại bỏ chính quyền và lập chính quyền mới, trên nền tảng có hiệu quả tốt nhất đối với an ninh và hạnh phúc của dân….

Niềm tin ấy thật độc đáo, thậm chí từng bị chê là ngây thơ, vì khi đó cả thế giới còn đang chìm đắm dưới chế độ phong kiến chuyên chế. Nên nhớ là trong kho tàng Hán ngữ cực kỳ phong phú không hề có các từ tự do, dân chủ, bình đẳng… vì họ làm gì có các khái niệm ấy. Mãi đến nửa cuối thế kỷ XIX khi nước Nhật (dùng Hán tự) phiên dịch toàn bộ các trước tác của các nhà Khai sáng Âu Mỹ, các nhà trí thức Nhật mới đặt ra những từ Hán ngữ tương đương, và người Việt Nam ta cũng được thừa hưởng các khái niệm này đúng từ đúng nghĩa.

Người Mỹ tin rằng một chính quyền được lập theo các nguyên tắc nêu trên là chính quyền của dân, do dân, vì dân. Chủ ngân hàng và nhà từ thiện David Rockefeller từng nói Tôi tin rằng Chính phủ Mỹ là đầy tớ của nhân dân chứ không phải ông chủ của họ 4. Hiếm thấy người dân nước nào lại nói tốt như vậy về chính phủ mình.

Với niềm tin ấy, hầu hết dân di cư đến nước Mỹ đều ôm ấp Giấc mơ Mỹ, và trong thực tế không ít người đã tay trắng làm nên, như Michael Bloomberg, Steve Jobs hoặc chú bé da đen Farrah Gray 5. Trẻ em Mỹ được dạy: Nước này là nơi đầy những cơ hội và sự khoan dung, ai cũng có thể thành đạt và giàu có. Hai con gái của Barack Obama mới 7 và 10 tuổi đã được mẹ dạy phải phấn đấu trước 40 tuổi trở thành nghị sĩ Quốc hội! Sau khi Obama đắc cử Tổng thống, hầu hết người Mỹ gốc Phi đều nghĩ rằng nếu họ chịu khó phấn đấu thì đều có thể làm được như Obama.

Người Mỹ tin rằng nước họ không có phân biệt giai cấp; trong xã hội chỉ có một loại người là công dân, hoàn toàn bình đẳng về cơ hội nhưng không bình đẳng về kết quả, và ai cũng có quyền sở hữu tài sản (trên thực tế 70% dân Mỹ có nhà riêng). Giàu nghèo chủ yếu là kết quả phấn đấu của mỗi người. Phân biệt theo thu nhập thì xã hội Mỹ có hai thiểu số người giàu, người nghèo và một đa số trung lưu chiếm khoảng 80% số dân. Nông dân, công nhân hoặc nhà tư bản đều là công dân. Vì không có giai cấp vô sản (“người đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản”) nên nước Mỹ chưa từng nảy sinh phong trào cách mạng XHCN như châu Âu cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Nước Mỹ có mức độ phân hóa giàu nghèo rất rõ rệt, hiện nay tầng lớp trên cùng (upper class) chiếm 1% số dân nhưng lại sở hữu 34,6% tổng tài sản tư trong cả nước; 80% số dân sở hữu có 15%. Thế nhưng người nghèo lại không ghen tị hoặc chống lại người giàu; cả đến hành khất và thất nghiệp cũng tin rằng nếu chịu khó và biết cách phấn đấu thì sẽ giàu có. Tín đồ đạo Tin Lành cho rằng nghèo do lười là tội lỗi.

Niềm tin của nước Mỹ là chất keo gắn kết nhiều triệu người của hàng chục dân tộc khác nhau liên tục di cư đến nước Mỹ trong hơn 4 thế kỷ qua, giúp họ vượt qua mọi khác biệt vốn có, dũng cảm phấn đấu hướng tới mục tiêu định sẵn từ ngày mở nước. Nhờ toàn dân cùng có một niềm tin cao cả và bất biến nên quốc gia này giữ được nền chính trị nhất quán và thành công suốt từ ngày lập quốc tới nay, chưa bao giờ phải thay đổi Hiến pháp hoặc lật đổ chính phủ, dù đã có 44 đời Tổng thống được bầu lên.

Niềm tin đó làm cho nước Mỹ có một dạng sức mạnh mềm quý giá hiếm thấy, khiến nước này luôn đứng đầu danh sách quốc gia thu hút nhiều dân di cư từ các nước khác đến. Một học giả Trung Quốc nhận xét: Nước Mỹ có một sức mạnh vĩ đại về tinh thần và đạo đức, là quốc gia do nhiều triệu con người không yêu Tổ quốc mình họp thành nhưng họ đều rất yêu nước Mỹ 6.
—————————-
Ghi chú
1 http://score.rims.k12.ca.us/score_lessons/symbols_freedom/pages/mayflower.html
2 Tuyển tập Mác-Ăng-ghen tiếng Việt, tập I, tr. 364
3 http://www.usflag.org/american.creed.html
4http://www.brainyquote.com/quotes/authors/d/david_ rockefeller.html#ixzz1dMafNJNW
5 http://dantri.com.vn/c25/s135-319588/chu-be-tro-thanh-trieu-phu-bat-dau-tu-tinh-thuong-me.htm
6 http://tuanvietnam.net/2010-08-15-niem-tin-va-dao-duc.

05
Tháng 2
13

Cạn vốn

Hà Huy Khoái
Năm cũ đi qua, năm mới vừa đến, cái từ được nghe nhiều nhất, nghe khắp mọi nơi là vốn. Hình như ai cũng thiếu vốn. Vậy nên lẽ ra mừng xuân thì phải có cài chủ đề gì vui vui, đằng này Tia Sáng lại cũng đưa ra chủ đề “vốn”. Mà mình cũng đã cạn vốn. Không phải chỉ cạn tiền, mà như cạn nhiệt tình, nên không biết viết gì nữa. Ngẫu nhiên lật một trang Sông của Nguyễn Ngọc Tư, bắt gặp ngay câu: “Đất nước này vốn dựa vào thần thánh, vào anh hùng mà sống, rồi bỗng dưng hai thứ đó vắng teo”.
Sao lại bỗng dưng? Có cái gì lại bỗng dưng mà vắng teo đâu.
Hình như trước đây Chế Lan Viên cũng nói đại ý:
Một đất nước thường sống bằng tiềm lực, Trong mỗi quả thị nghèo đều có một nàng tiên.
Ngày nay vốn anh hùng, vốn thần thánh, vốn tiềm lực, cạn cả rồi chăng?
Không còn vốn thần thánh để răn đe, nên người nông dân hiền lành chất phác cũng sẵn sàng tiêm thuốc độc vào hoa quả cho người khác ăn, miễn là mình thêm chút vốn tiền.
Không còn vốn anh hùng nên giữa đường có thấy sự bất bằng, người ta cũng bỏ qua. Nên một tên côn đồ với con dao trong tay có thể khống chế cả xóm.
Nhớ lại hồi còn chiến tranh, cái vốn niềm tin sao mà lớn quá. Ai cũng tin sẽ đến ngày hết chiến tranh, đất nước thống nhất. Chỉ là không biết bao giờ thôi. Người ta đoán già, đoán non, mang cả “sấm Trạng Trình” ra để đoán. Có người dẫn câu:
Mười người chết bảy còn ba
Chết hai còn một mới ra thái bình

Nhưng không ai thích câu đó, vì nghe ghê gớm quá, vì người ta chỉ tin vào những gì tốt đẹp thôi. Vậy là tìm được câu sau, cũng của Trạng Trình:
Mã đề giương cước anh hùng tận
Thân Dậu niên lai kiến thái bình.

Đó là vào năm 1965, năm Tỵ. Người ta đoán là sang năm Ngọ, mã đề giương cước thì anh hùng chết sạch! Nhưng vì niềm tin lớn quá nên người hay chữ lại giải nghĩa rằng “anh hùng tận” ở đây là tất cả đều là anh hùng, ứng với cái câu cửa miệng thời đó “ra ngõ gặp anh hùng”. Và người ta đều mong sang năm Thân (1968), năm Dậu (1969), cái sự thái bình bắt đầu được kiến tạo.
Thế mới phục Trạng Trình, viết để người ta giải thích thế nào cũng được. Nhưng giải thích thế nào, cũng lại tùy thuộc cái vốn của người đọc mà thôi. Mấy câu đó mà đưa ra bình bây giờ, cũng lại vào năm Tỵ, chắc phải có nghĩa khác.
Ngẫm ra trong mọi loại vốn, có lẽ cái vốn niềm tin là quan trọng nhất. Chỉ xin kể câu chuyện nhỏ này thôi.
Có hai người tù binh nằm chung một xà lim, một già, một trẻ. Hai người ngày ngày đào tường để mong trốn thoát. Cho đến hôm đào thông được ra ngoài, người tù già đưa cho anh bạn tù trẻ cái bọc nhỏ và dặn: “Lão già rồi, có trốn ra cũng không đủ sức về đến nhà. Chú cầm lấy cái gói này. Đây là khúc bánh mỳ mà lão đã giữ để phòng xa. Nay đưa để chú phòng thân. Chỉ nhắc chú một điều, trước khi mở ra ăn thì nên tự hỏi là đã đến mức tuyệt vọng chưa, hay vẫn còn cố được. Nếu thấy vẫn chưa phải là lúc tuyệt vọng nhất thì khoan hãy mở”. Anh bạn trẻ, trải qua bao khó khăn, về được đến nhà. Kể lại câu chuyện cho cả nhà nghe, anh ta nói rằng đã rất nhiều lần định mở cái gói, nhưng lại tự nhủ là vẫn chưa đến nỗi tuyệt vọng, nên để dành lại cho lúc khó khăn hơn. Chính vì niềm tin là vẫn còn vốn đó nên anh ta đủ nghị lực về được đến nhà. Trịnh trọng đặt cái gói lên bàn và mở ra cho cả nhà xem, anh chàng kinh ngạc vì đó chỉ là một hòn đá!
Đất nước bốn ngàn năm, cái vốn niềm tin đâu chỉ nhỏ như hòn đá. Vậy nhưng xin đừng phung phí nó. Hết cái vốn đó rồi, khi tuyệt vọng biết bấu víu vào đâu?
Theo TiaSang.com.vn
05
Tháng 2
13

‘Tay nhúng chàm đừng chống tham nhũng’

Nguyễn Bá Thanh

Ông Nguyễn Bá Thanh được điều từ Đà Nẵng ra để trở thành nhân vật chủ chốt của ban chống tham nhũng sau Tổng bí thư

 

Ban chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị đã họp phiên đầu tiên mà không có sự tham gia của Thủ tướng, người từng giữ chức trưởng ban.

Ban này nay do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng làm trưởng ban, Nguyễn Bá Thanh, Tân trưởng ban Nội chính làm Phó trưởng ban thường trực.

Các Phó trưởng ban khác gồm có Thường trực Ban bí thư Lê Hồng Anh, Bí thư Trung ương Đảng và Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra trung ương Ngô Văn Dụ, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu.

Tất cả các thành viên chủ chốt này đều là Ủy viên Bộ Chính trị trừ ông Lưu chỉ là Ủy viên trung ương Đảng.

Ngoài ra Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng còn có 10 ủy viên trong đó có trưởng ban tổ chức trung ương, bộ trưởng công an, chủ nhiệm Tổng cục chính trị, chánh án Tòa án nhân dân tối cao, viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng thanh tra chính phủ và Chủ nhiệm ủy ban tư pháp Quốc hội.

Việc xóa bỏ ban chống tham nhũng do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng làm trưởng ban được xem như động thái nhằm “xén cánh” người đứng đầu Chính phủ.

Nhưng nhiều người ngay lập tức đã tỏ ý hoài nghi hiệu quả của ban phòng chống tham nhũng mới.

‘Không thể nóng vội’

Trong khi nhiều chuyên gia tư vấn đã nhấn mạnh tầm quan trọng của một hệ thống tư pháp độc lập và sự giám sát của báo chí, ban chống tham nhũng mới sẽ đóng vai trò kiểm soát cả hai ‘quyền lực này’.

“Chỉ đạo định hướng thông tin tuyên truyền về phòng, chống tham nhũng; chỉ đạo xử lý vi phạm quy định về quản lý, cung cấp thông tin và những hành vi lợi dụng việc tuyên truyền về phòng, chống tham nhũng để vu khống, gây mất đoàn kết nội bộ.”

Một trong những nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo phòng chống tham nhũng

Bản tin trên trang web của Đảng Cộng sản Việt Nam nói về chín nhiệm vụ của ban trong đó có:

“Chỉ đạo định hướng thông tin tuyên truyền về phòng, chống tham nhũng; chỉ đạo xử lý vi phạm quy định về quản lý, cung cấp thông tin và những hành vi lợi dụng việc tuyên truyền về phòng, chống tham nhũng để vu khống, gây mất đoàn kết nội bộ.

Ngoài ra, trang web này cũng nói Đảng đã chỉ đạo các ban ngành “xử lý những vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp hoặc dư luận xã hội đặc biệt quan tâm”.

Ông Nguyễn Bá Thanh, một trong những nhân vật chủ chốt của ban này, được cho là đã đưa ra phân công nhiệm vụ dự kiến của ban nhưng hiện chưa có thông tin thêm.

Ban này cũng đã bàn về chương trình làm việc của năm 2013 và “một số vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp cần quan tâm chỉ đạo, đôn đốc giải quyết,” theo trang web của Đảng.

Trong khi đó Trưởng ban Nguyễn Phú Trọng được dẫn lời nói:

“Việc Trung ương quyết định thành lập Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị là xuất phát từ yêu cầu khách quan, với mong muốn, quyết tâm cao hơn, tạo bước chuyển mới, rõ rệt hơn nữa trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

“Phòng, chống tham nhũng là công việc vô cùng hệ trọng, liên quan đến sự bền vững của chế độ nhưng cực kỳ khó khăn, phức tạp vì liên quan đến lợi ích vật chất, tiền tài, danh vọng, liên quan đến chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, động chạm đến những người có chức, có quyền.

“Chính vì vậy, Đảng, Nhà nước ta đã làm nhiều lần, làm quyết liệt nhiều việc, nhưng vẫn còn nhiều việc phải làm và phải làm lâu dài, làm quyết liệt hơn nữa, kiên trì, bền bỉ, không thể nóng vội.”

‘Tay nhúng chàm’

Ông Trọng cũng được trích lời thúc giục các thành viên của ban nêu gương trong việc chống tham nhũng trong tư cách cá nhân và cả đối với gia đình và người thân của họ:

Nguyễn Phú Trọng

Ông Trọng thúc giục các thành viên ban chống tham nhũng gương mẫu trong tư cách cá nhân và đối với cả gia đình và người thân

“Mỗi thành viên, mỗi cán bộ làm việc trong lĩnh vực này phải hết sức gương mẫu, liêm, dũng, chính, trực, tức là phải trong sạch, dũng cảm, ngay thẳng, công tâm, trung thực.

“Bản thân mỗi đồng chí và cả gia đình, vợ, con, phải giữ gìn sự trong sạch, rồi mới chống tham nhũng được, nếu không nói chẳng ai nghe, tay đã nhúng chàm thì không thể làm gì khác được.”

Ông Trọng cũng thúc giục các thành viên của ban chống tham nhũng mới “không bị cám dỗ bởi bất cứ lợi ích nào, không ngại bất cứ lực cản không trong sáng nào”.

Ban chống tham nhũng dưới thời ông Nguyễn Tấn Dũng bị chỉ trích để tình trạng hối lộ, đút lót gia tăng mặc dù cũng đưa ra xử lý một số vụ trong đó có PMU 18, đề án 112, vụ hối lộ quan chức Việt Nam của PCI, bê bối tại Vinashin, Vinalines, Vụ tiền Polymer, vụ bắt giữ Nguyễn Đức Kiên cũng như khởi tố ông Trần Xuân Giá và một số quan chức ngân hàng khác.

Trong bảng xếp hạng về độ trong sạch của 176 nước trên thế giới trong năm 2012 do Minh Bạch Quốc Tế (Transparency International) đưa ra, Việt Nam đứng thứ 123.

Năm ngành được người dân Việt Nam cho là có nhiều tham nhũng nhất là cảnh sát giao thông, quản lý đất đai, hải quan, xây dựng và giao thông

Theo BBC  Tiếng Việt

25
Tháng 1
13

Hiến pháp là nền tảng, còn nền tảng của hiến pháp?

TS Nguyễn Sỹ Phương, CHLB Đức
Thế giới hiện đại coi hiến pháp là nền tảng pháp lý cho mọi nhà nước tồn tại và vận hành, bất kể là nhà nước gì, hiển nhiên như bất cứ ngôi nhà nào cũng phải có nền móng. Tới lượt nền móng lại được xây dựng trên nền tảng địa chất nào đó. Vậy Dự thảo sửa đổi Hiến pháp ta hiện nay dựa trên nền tảng nguyên lý nào?

 

Hiến pháp nước nào cũng vậy, được xây dựng trên những nền tảng nguyên lý nhất định quyết định bản chất hiến pháp đó, được khoa học pháp lý dùng làm tiêu thức phân loại ngót 200 quốc gia trên thế giới đặc trưng bởi hiến pháp quốc gia họ. Ở các quốc gia Hồi giáo như Afghanistan, Iran, Mauretanien, Sudan, Pakistan…, hiến pháp đều dựa trên nền tảng kinh Koran. Điển hình như Hiến pháp Iran năm 1979, sửa toàn diện lần cuối năm 1989, gồm 177 điều, mở đầu: “Hiến pháp Cộng hoà Hồi giáo Iran phấn đấu tạo dựng các định chế văn hoá, xã hội, chính trị và kinh tế Iran theo các nguyên tắc cơ bản và quy ước đạo Hồi; nó phù hợp với tâm nguyện của cộng đồng Hồi giáo“. Bản chất hiến pháp chính là bản chất mối quan hệ qua lại giữa nhà nước và người dân do nó điều chỉnh; ở các quốc gia Hồi giáo trên, mối quan hệ đó thừa nhận ba chủ thể, với vai trò lãnh đạo tinh thần của giáo chủ, nhà nước nhân danh Hồi giáo quyết định trực tiếp mọi hoạt động văn hoá xã hội chính trị kinh tế, và người dân có bổn phận chấp hành, được bảo đảm bằng tín điều Hồi giáo, kinh Koran. Chính trị học phân loại những nhà nước quyết định trực tiếp mọi mặt hoạt động của người dân thuộc toàn trị, luôn phải phục tùng mệnh lệnh của một hoặc một nhóm người đứng đầu là độc tài; từ đó các quốc gia Hồi giáo trên bị tạp chí The Economist xếp chỉ số thứ hạng dân chủ dưới mức trung bình, đa phần thuộc nhóm chính thể chuyên chế.

Nền tảng Hiến pháp Mỹ chỉ thừa nhận hai chủ thể, theo nguyên lý, người dân chứ không phải một hay một nhóm người hay bất cứ nhân danh gì, là chủ nhân nhà nước, có toàn quyền định đoạt nó, chứ không phải ngược lại; đảng phái, tôn giáo, tổ chức dân sự đều nằm trong phạm trù nhân dân chứ không phải trên hay ngoài nhân dân càng không phải nhà nước.

Khác các quốc gia trên, nền tảng Hiến pháp Mỹ chỉ thừa nhận hai chủ thể, theo nguyên lý, người dân chứ không phải một hay một nhóm người hay bất cứ nhân danh gì, là chủ nhân nhà nước, có toàn quyền định đoạt nó, chứ không phải ngược lại; đảng phái, tôn giáo, tổ chức dân sự đều nằm trong phạm trù nhân dân chứ không phải trên hay ngoài nhân dân càng không phải nhà nước; được Đại hội Đại biểu 13 tiểu bang đưa vào tuyên ngôn độc lập trước đó: “Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng, tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Để đảm bảo những quyền đó, chính phủ lập ra được trao quyền lực chính đáng dựa trên ý chí nhân dân; bất cứ lúc nào nếu chính quyền phá vỡ những mục tiêu trên, nhân dân đều có quyền thay đổi hoặc loại bỏ chính quyền đó lập nên một chính quyền mới, đặt trên nền tảng những nguyên tắc, tổ chức thực thi tốt nhất nhằm phục vụ cho hạnh phúc người dân“. Nguyên lý trên được Hiến pháp Mỹ khẳng định tiếp ở lời mở đầu: “Nhằm hoàn thiện Hợp chủng Quốc, thực hiện quyền bình đẳng, bảo đảm ổn định xã hội, quan tâm bảo vệ đất nước, thúc đẩy lợi ích chung, gìn giữ tự do cho chính mình và thế hệ con cháu mai sau, nhân dân Mỹ lập nên bản Hiến pháp này cho nhà nước Hoa Kỳ“. Tức người dân định ra hiến pháp trao quyền lực cho nhà nước thực thi ý chí họ, chứ không phải để cai trị mình – một dấu hiệu bản chất của hiến pháp dân chủ. Hệ dẫn, phúc quyết được chính trị học coi là một dấu hiệu bắt buộc của một nhà nước dân chủ, bảo đảm tính chính danh cho nó, chứ nhà nước không phải vua chuá nghiễm nhiên có quyền lực; được Hiến pháp ta năm 1946 quy định thành văn, hoặc nhiều quốc gia khác mặc định, nghĩa là tự động thực hiện không cần viết vào hiến pháp; cũng giải thích cho thực tế, tại sao Hiến pháp mới Ai Cập trưng cầu dân ý vừa qua bị biểu tình chống kịch liệt, bởi thiên về Hồi giáo, gây lép vế cho những tôn giáo khác; tức không xuất phát từ ý chí toàn bộ tầng lớp nhân dân.

Nguyên lý dân chủ trên có thể tìm thấy ở nhiều quốc gia, như Hiến pháp Liên bang Nga 1993 được thể hiện ở câu mở đầu: “Nhằm khẳng định tự do và quyền con người, ổn định và hoà hợp, gìn giữ thống nhất đất nước, xuất phát từ những nguyên tắc bình đẳng, tự chủ của người dân, tự hào với các bậc tiền nhân đã trao chúng ta tình yêu và ý thức đối với tổ quốc, tin tưởng vào bình đẳng bác ái, giữ vững chủ quyền đất nước, quyết tâm bảo vệ nền tảng dân chủ, phấn đấu vì một nước Nga hạnh phúc nở hoa, với trách nhiệm trước quê hương, mọi thế hệ, là một phần của cộng đồng thế giới, nhân dân đa sắc tộc Liên bang Nga số phận chung đã liên kết nhau trên cùng mảnh đất làm ra bản Hiến pháp này cho nhà nước Nga“.

Rút bài học từ trang sử đen tối nhất gây ra bởi chế độ Phát Xít nhân danh ưu việt đưa dân tộc Đức lên vị trí thượng đẳng thống trị thế giới, nguyên lý dân chủ trên được Hiến pháp Đức năm 1946 thể hiện chi tiết tại Điều 20: “(1) Cộng hoà Liên bang Đức là nhà nước dân chủ và xã hội. (2) Tất cả quyền lực nhà nước đều từ nhân dân. Nó được nhân dân thực thi thông qua bầu cử và trưng cầu dân ý, và bằng các cơ quan chuyên về lập pháp hành pháp và tư pháp. (3) Lập pháp chịu ràng buộc bởi hiến pháp, hành pháp và tư pháp bởi luật và các chuẩn mực luật định. (4) Bất cứ ai có hành vi vi phạm những nguyên tắc trên, mọi người Đức đều có quyền chống lại, nếu các biện pháp khác đều không thể“. Ở đây nguyên lý dân chủ đã được biến thành quy phạm, tức những “chuẩn mực thước đo quy tắc xử sự, đong đo đếm được“, như tại điểm (1): nhà nước họ là nhà nước dân chủ và xã hội; tại điểm (2), người dân bầu cử và phúc quyết; tại điểm (3): mọi cơ quan nhà nước chỉ được làm những gì luật cho phép; tại điểm (4): nếu xảy ra vi phạm những nguyên tắc trên người dân có quyền chống lại, một khi cơ quan nhà nước không, hoặc không thể giải quyết.

Mối quan hệ giữa nhà nước có chức năng thực thi quyền lực dân trao theo ý chí họ, và người dân có quyền loại bỏ chính quyền cũ, lập mới trong nền tảng Hiến pháp Mỹ, được Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích đơn giản mộc mạc cho người dân dễ hiểu, khi bàn về nó: “Nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ. Từ Chủ tịch nước đến giao thông viên cũng vậy, nếu không làm được việc cho dân, thì dân không cần đến nữa”. Vấn đề chỉ còn nằm ở cơ chế nào để thực hiện nguyên lý đó, chính là nhiệm vụ các điều khoản trong hiến pháp phải giải quyết, chứ không thể trông chờ vào nhận thức đạo đức cá nhân người hành xử.

Phạm trù nhà nước “dân chủ và xã hội“ quy định tại điểm (1), tương tư như phạm trù nhà nước “xã hội chủ nghĩa“, hay nhà nước “cộng hoà hồi giáo“, được dùng chủ yếu trong khoa học chính trị, chỉ có thể phân biệt thông qua nhận thức về nội hàm và ngoại diên của chúng. Mà đã là nhận thức thì mang tính chủ quan, không phải những quy phạm “thước đo chuẩn mực cân đong đo đếm được“ dùng trong các văn bản luật. Để khắc phục bất cập đó, Toà án Hiến pháp họ có chức năng giải thích Hiến pháp, lượng hoá phạm trù, khái niệm, thành những quy phạm, buộc cơ quan quyền lực nhà nước không thể làm theo nhận thức chủ quan của mình chệch ra khỏi phạm trù dân chủ, xã hội (sẽ được bàn đến trong chuyên đề Toà án Hiến pháp). Điểm (4) hàm chứa nguyên lý: người dân là chủ nhân được quyền làm tất cả đối với nhà nước (trừ những điều luật pháp cấm); họ có quyền can thiệp từ những hành xử thường nhật của chính quyền cho tới loại bỏ nó như Hiến pháp Mỹ ghi nhận. Cách thập niên trước, lúc tệ nạn bán thuốc lá lậu lan tràn Đông Đức mới tái thống nhất, tại Leipzig một đội cảnh sát chặn 2 đầu 1 cầu vượt dưới là đường ô tô chạy ken kín, nhằm bắt gọn mấy người Việt bán thuốc lá lậu cho khách qua cầu trên đó, lập tức bị dân chúng đi đường quây cảnh sát lại giải toả cho nạn nhân, đòi đưa cảnh sát ra toà, bởi hành vi cảnh sát có thể dẫn tới bức tử họ liều chết nhảy xuống đường. Năm 2011, dưới áp lực của dân chúng truyền thông phản đối kịch liệt đòi miễn nhiệm, bị quốc hội điều trần, Bộ trưởng Nội vụ tiểu bang Niedersachsen đã phải cho đón trở lại Đức một gia đình người Việt hai con đã sống ở Đức 20 năm bị trục xuất về nước vốn đúng luật được toà phán quyết; chỉ vì người dân cho rằng cơ quan nhà nước (kể cả toà án) đã hành xử vô nhân đạo không phù hợp bản chất dân chủ nhà nước họ được hiến định. Nói nhà nước của dân do dân vì dân được hiến định phải có giá trị trên thực tế như vậy.

Thụy Điển là Vương quốc được xếp hạng dân chủ số 1 thế giới, mặc dù trong mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân thừa nhận chủ thể thứ 3 là vua truyền ngôi nhưng chỉ dưới dạng biểu tượng quốc gia; nguyên lý “tất cả quyền lực nhà nước đều từ nhân dân“ được hiến pháp họ quy phạm hoá chi tiết hơn nữa tại điều 1: “Quyền lực người dân Thụy Điển được hình thành từ tập hợp các ý kiến biểu đạt tự do, quyền biểu quyết ngang nhau, nhà nước trung ương và cơ quan hành chính điạ phương phải biến thành hiện thực“. Chứ không phải cầm quyền muốn làm gì thì làm, cho dù với động cơ mang lại hạnh phúc cho người dân tốt đẹp tới mấy. Tại điều 2, mục đích vì dân của nhà nước, cũng được quy phạm hoá: “Cuộc sống văn hoá, kinh tế, việc riêng của mỗi một người (chứ không phải nhân dân chung chung – ND) là mục đích cao nhất trong hành xử hàng ngày của cơ quan nhà nước“; giải thích cho thực tế ở họ bất cứ quyết định nào của chính quyền đối với bất kỳ người dân nào đều phải ghi rõ người dân có quyền chống lại, hướng dẫn thủ tục thậm chí trợ cấp cả chi phí khiếu kiện đi lại luật sư nếu không đủ tài chính; chính quyền phải giải quyết trong thời hạn luật định, qúa hạn hoặc sai sẽ bị chế tài. Nói tuân thủ hiến pháp, không có nghĩa nhắm vào nhân dân mà nhằm vào nhà nước khi thực thi quyền lực như vậy.

Cũng thừa nhận ba chủ thể, ở Đan Mạch gồm vua, nhà nước và nhân dân, nhưng nước họ đạt chỉ số thứ hạng dân chủ cao thứ 5 thế giới chính nhờ phân định vai trò độc lập trong bộ máy nhà nước, để bảo đảm người dân thực sự là chủ nhân đất nước; điều §3 Hiến pháp năm 1953, quy định: “Quốc hội cùng Vua giữ vai trò lập pháp“, “Vua giữ chức năng hành pháp“ nhưng “toà án đảm bảo chức năng tư pháp độc lập“. Chức năng hành pháp lại được Điều §13 phân định “Vua không thể truy cứu trách nhiệm, bất khả xâm phạm“, nhưng “các bộ trưởng phải chịu trách nhiệm đối với điều hành của chính phủ bằng một bộ luật“. Nghĩa là bất cứ quan chức nào sai phạm đều bị chế tài, không thể đổ cho Vua.

Hiến pháp Liên Xô 1977 sửa lần cuối năm 1990 được xây dựng dựa trên nền tảng “nguyên lý Chủ nghĩa Xã hội“, “học thuyết chủ nghĩa cộng sản“, với ba chủ thể phù hợp nguyên lý đó, khái quát trong lời mở đầu: “Cách mạng tháng 10 đã tạo dựng được nền chuyên chính vô sản, lập ra nhà nước kiểu mới Xô Viết là công cụ chính bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng chủ nghĩa xã hội“, “đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đội tiên phong của nhân dân“. “Các nước Cộng hoà Liên Xô huy động lực lượng và khả năng nhân dân xây dựng nó“.

Nền tảng nguyên lý trên cũng được phản ảnh trong phần mở đầu Hiến pháp Trung Quốc năm 1982, sửa đổi ngày 14.3.2004, cũng với ba chủ thể: “Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc , được dẫn dắt bởi chủ nghĩa Mác-Lê Nin, tư tưởng Mao Trạch Đông, học thuyết Đăng Tiểu Bình, và thuyết Ba Đại diện, quần chúng nhân dân các dân tộc Trung Quốc tiếp tục giữ vững chuyên chính vô sản, trên con đường Xã hội Chủ nghĩa… biến Trung Quốc thành một nước xã hội chủ nghĩa, dân chủ và hạnh phúc“.

Nền tảng Hiến pháp nước ta năm 1946, có thể so sánh với Hiến pháp Hoa kỳ, khi bản Tuyên ngôn Độc lập 2.9.1945 làm nền tảng cho nó, được mở đầu trích từ Tuyên ngôn Độc lập nước Mỹ: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc“. Mối quan hệ giữa nhà nước có chức năng thực thi quyền lực dân trao theo ý chí họ, và người dân có quyền loại bỏ chính quyền cũ, lập mới trong nền tảng Hiến pháp Mỹ, được Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích đơn giản mộc mạc cho người dân dễ hiểu, khi bàn về nó: “Nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ. Từ Chủ tịch nước đến giao thông viên cũng vậy, nếu không làm được việc cho dân, thì dân không cần đến nữa”. Vấn đề chỉ còn nằm ở cơ chế nào để thực hiện nguyên lý đó, chính là nhiệm vụ các điều khoản trong hiến pháp phải giải quyết, chứ không thể trông chờ vào nhận thức đạo đức cá nhân người hành xử.

So với Hiến pháp gốc 1992 có 12 chương, 147 điều, Dự thảo sửa đổi ở ta hiện nay chỉ còn 11 chương, 124 điều; giảm một chương, bớt 23 điều, trong đó sửa 99 điều, bổ sung mới 11 điều và chỉ giữ lại nguyên vẹn 14 điều, tức còn lại chưa tới 10% hành văn hiến pháp cũ, nghĩa là sửa đổi toàn diện, có ý nghĩa như thay mới. Ví vậy, tính chất và lý do hoàn toàn khác với sửa một vài điều như Hiến pháp Mỹ hay Đức do họ nếu không sửa, luật ban hành liên quan sẽ bị bác bỏ, vốn ở ta chưa bao giờ xảy ra, để phải sửa như họ. Một bản hiến pháp chỉ được coi là thay mới một khi thay đổi nền tảng nguyên lý đẻ ra nó, nếu không hoặc các điều khoản sửa đổi sẽ xa rời nền tảng nguyên lý cũ, hoặc chứng tỏ nền tảng cũ bất định, các điều khoản xây dựng trên nó sửa thế nào cũng được. Và cũng chỉ khi xác định được nguyên lý nền tảng, lấy nó làm thước đo mới có thể đánh giá 124 điều khoản xây dựng từ đó là đúng hay sai, nếu không hoặc như “đẽo cày giữa đường“ hoặc như “thầy bói xem voi“.

Vậy Dự thảo sửa đổi Hiến pháp ta hiện nay dựa trên nền tảng nguyên lý nào? Nguyên lý đó đã thực đúng xuất phát từ ý chí nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân? Thuộc dạng hiến pháp quốc gia nào nêu trên, hay hoàn toàn khác biệt họ, hay đã chắt lọc được mọi tinh túy từ họ? Bởi nhân loại ngày nay sống trong thời đại hội nhập toàn cầu lấy thế giới làm thước đo; Việt Nam quan hệ với mọi quốc gia trên thế giới luôn giao thoa với hiến pháp họ; chưa nói “một bộ phận không thể tách rời dân tộc Việt Nam“ chiếm tới 1/20 người Việt, lưu trú khắp thế giới do hiến pháp các quốc gia khác điều chỉnh; đồng nghĩa con người Việt Nam sống với nhiều hiến pháp khác nhau, chứ không phải một ! Có thể phân tích 124 điều khoản Dự thảo để xác định trở lại nền tảng nguyên lý xây dựng nên nó, trả lời cho các câu hỏi trên.

 Theo TiaSang.com.vn




Lượng người truy cập

  • 45,295 hits
Tháng Năm 2013
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
« Tháng 4    
 12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
2728293031  

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.